Trong khuôn khổ Hội thảo quốc tế ELG 2026 với chủ đề “Systemic Sustainability: Analysis and Policy Design in the Age of Multiple Transitions”, Viện Tài chính Bền vững UEH (SFI) đã tổ chức ba phiên chuyên đề tập trung vào những vấn đề trọng yếu của quá trình chuyển đổi bền vững: tích hợp ESG trong doanh nghiệp, ứng dụng công nghệ hướng tới bền vững và quản trị quá trình chuyển đổi. Bên cạnh đó, bốn thành viên của Viện đảm nhiệm vai trò chủ tọa tại các phiên song song, qua đó mở rộng sự tham gia của SFI vào các hoạt động học thuật của hội thảo.
Các phiên thảo luận đã tạo diễn đàn trao đổi giữa các nhà nghiên cứu, chuyên gia và nhà hoạch định chính sách về những thách thức đang nổi lên trong bối cảnh chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và điều chỉnh mô hình tăng trưởng tại các nền kinh tế đang phát triển, trong đó có Việt Nam.
Phiên SFI-A, với chủ đề “Integrating ESG in Corporates: Insights from Transitioning Economies”, do PGS. TS. Bùi Thị Mai Hoài, Viện trưởng Viện Tài chính Bền vững, chủ trì.
Các báo cáo tại phiên tập trung vào cách thức đưa các yếu tố môi trường, xã hội và quản trị vào hoạt động doanh nghiệp một cách thực chất. Một nội dung xuyên suốt là yêu cầu chuyển ESG từ các cam kết mang tính định hướng sang hệ thống quản trị có thể đo lường, kiểm chứng và giải trình.

Chuyên đề SFI-A “Integrating ESG in Corporates: Insights from Transitioning Economies” được thảo luận dưới sự chủ trì của PGS. TS. Bùi Thị Mai Hoài
Nghiên cứu với case DHL Express Việt Nam của Đinh Thị Xuân Thủy và Bùi Thị Mai Hoài cho thấy chánh niệm cá nhân (individual mindfulness) và văn hóa tổ chức xanh có vai trò ý nghĩa trong việc hình thành bản sắc môi trường và thúc đẩy hành vi bền vững tại nơi làm việc.
Ở cấp độ tổ chức, Nguyễn Việt Hưng và Dương Tuấn Kiệt đề xuất khung phân tích bốn lớp dựa trên tiêu chuẩn ISO 20121:2024 và áp dụng đánh giá tổ chức phi lợi nhuận CHOICE. Khung này nhằm thu hẹp khoảng cách giữa thông điệp truyền thông và thực tiễn vận hành, đồng thời giảm rủi ro “tẩy xanh”.
Nghiên cứu của Huỳnh Hồng San xây dựng khung đánh giá bao bì tự hủy sinh học dựa trên mô hình ba trụ cột phát triển bền vững (Triple-Bottom-Line) và tư duy vòng đời. Kết quả lưu ý rằng bao bì tự hủy không mặc nhiên tạo ra lợi ích môi trường nếu hệ thống thu gom và xử lý chất thải chưa phù hợp; trong một số điều kiện chôn lấp, loại bao bì này còn có thể làm phát sinh đáng kể khí methane.
Một hướng nghiên cứu mới khác được Lê Thị Hải và Lê Hữu Quỳnh Anh trình bày thông qua việc đánh giá công bố thông tin đa dạng sinh học (biodiversity) của 32 doanh nghiệp thuộc Top 100 Doanh nghiệp Bền vững Việt Nam. Nghiên cứu cho thấy áp lực bảo đảm tính chính đáng và yêu cầu quản trị rủi ro liên quan đến thiên nhiên theo các khung TNFD và GRI 304 đang trở thành động lực quan trọng, đặc biệt đối với các ngành nông nghiệp, năng lượng và khai thác tài nguyên.
Bổ sung góc nhìn từ thị trường tiêu dùng, nghiên cứu của Ngô Hữu Khánh Linh và Hồ Huỳnh Ý Nhi, dựa trên dữ liệu từ người tiêu dùng tại Thành phố Hồ Chí Minh, cho thấy khả năng hoàn thành đơn hàng và hiệu quả của nền tảng là những yếu tố ảnh hưởng mạnh đến sự hài lòng trong thương mại điện tử thời trang. Như vậy, với người tiêu dùng hàng thời trang qua sàn thương mại điện tử, dữ liệu ở TP.HCM cho thấy bao bì chưa phải là yếu tố họ quan tâm.
Từ các kết quả nghiên cứu, phiên SFI-A đề xuất sớm xây dựng bộ chỉ tiêu ESG phù hợp với đặc điểm từng ngành, hoàn thiện cơ chế pháp lý phòng chống “greenwashing” và cung cấp các chương trình hỗ trợ kỹ thuật, tài chính ban đầu cho doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng như các tổ chức xã hội.
Phiên SFI-B, với chủ đề “Technological Pathways to Environmental Sustainability: Decarbonization, Water, and Biodiversity”, do PGS. TS. Lê Hữu Quỳnh Anh, Viện Tài chính Bền vững, chủ trì.
Các nghiên cứu tại phiên tập trung vào công nghệ số, công nghệ xanh và các giải pháp dựa vào thiên nhiên nhằm giải quyết các vấn đề về an ninh nguồn nước, biến đổi khí hậu và suy giảm đa dạng sinh học tại Đông Nam Á.

PGS. TS. Lê Hữu Quỳnh Anh chủ trì phiên SFI-B “Technological Pathways to Environmental Sustainability: Decarbonization, Water, and Biodiversity”
Các nghiên cứu tại Chiang Rai, Thái Lan và Phnom Penh, Campuchia cho thấy việc phục hồi hành lang sông, vùng đất ngập nước và các hệ sinh thái đô thị có thể đồng thời hỗ trợ giảm ngập, cải thiện chất lượng nước và tăng khả năng lưu trữ carbon. Tuy nhiên, khả năng nhân rộng các mô hình này còn phụ thuộc vào quỹ đất, năng lực kỹ thuật và cơ chế huy động tài chính.
Ở quy mô cộng đồng, nghiên cứu về mô hình vườn nổi tại trường học ở Chiang Rai cho thấy một số loài thực vật thủy sinh có khả năng hấp thụ lượng dinh dưỡng dư thừa, qua đó mở ra khả năng áp dụng các giải pháp chi phí thấp trong quản lý nước tại địa phương.
Đối với Việt Nam, nghiên cứu của Lê Hữu Quỳnh Anh và cộng sự sử dụng mô hình WEAP để đánh giá cân bằng tài nguyên nước tại Thành phố Cần Thơ đến năm 2030. Kết quả nhận diện nguy cơ thiếu hụt nước cho hoạt động công nghiệp trong mùa khô và đề xuất tăng cường mạng lưới phân phối dự phòng, đồng thời nâng tỷ lệ tái sử dụng nước công nghiệp.
Trong lĩnh vực giảm phát thải, nghiên cứu của Lê Hữu Quỳnh Anh và Bùi Thị Mai Hoài xây dựng mô hình kiểm kê khí nhà kính cho một nhà máy dệt may Việt Nam. Kết quả cho thấy phát thải gián tiếp từ điện lưới chiếm tỷ trọng chủ yếu, từ đó đặt ra yêu cầu về tiết kiệm năng lượng, sử dụng năng lượng tái tạo và hoàn thiện lộ trình giảm phát thải.
Phiên SFI-C, với chủ đề “Governing Transitions: Managing the Shift to a Sustainable Future”, do TS. Phạm Thái Bình, Phó Viện trưởng Viện Tài chính Bền vững, chủ trì.
Phiên thảo luận tiếp cận chuyển đổi bền vững từ các khía cạnh dữ liệu, công nghệ công nghiệp, quản trị nhân sự và năng lực số hóa doanh nghiệp.

Phiên SFI-C “Governing Transitions: Managing the Shift to a Sustainable Future” chủ trì bởi TS. Phạm Thái Bình
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Minh Giang phân tích việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong quản lý môi trường có thể tạo ra sai lệch nếu dữ liệu đầu vào thiếu tính đại diện cho bối cảnh địa phương. Đây là vấn đề đáng quan tâm tại các nền kinh tế đang phát triển, nơi hệ thống dữ liệu môi trường còn phân tán và chưa đồng bộ.
Nghiên cứu của Bùi Thị Thúy Hằng đánh giá vai trò của công nghệ sơn bột tĩnh điện trong kinh tế tuần hoàn, nhấn mạnh khả năng giảm hợp chất hữu cơ dễ bay hơi (VOC), tăng tỷ lệ thu hồi nguyên liệu và hỗ trợ doanh nghiệp đáp ứng các tiêu chuẩn môi trường quốc tế.
Ở khía cạnh xã hội, nghiên cứu của Nguyễn Cao Huỳnh Như và Lương Thị Thủy cho thấy lãnh đạo trao quyền có thể củng cố trao quyền tâm lý và động lực làm việc nội tại của lao động nữ.
Trong khi đó, nghiên cứu của Nguyễn Văn Quý và Bùi Thị Mai Hoài về Hộ chiếu Sản phẩm Kỹ thuật số (DPP) cho thấy ngành dệt may xuất khẩu Việt Nam cần sớm chuẩn bị hạ tầng dữ liệu chuỗi cung ứng, khả năng truy xuất nguồn gốc và năng lực số hóa để đáp ứng các yêu cầu mới của thị trường.
Không chỉ tổ chức ba phiên chuyên đề, các thành viên SFI còn đảm nhiệm vai trò chủ tọa tại bốn phiên song song. Các phiên này mở rộng trao đổi về tài chính bền vững, chính sách công và phát triển địa phương bền vững, hiệu quả doanh nghiệp và đổi mới sáng tạo.
ESG và hiệu quả tài chính doanh nghiệp. Phiên A11 do PGS. TS. Bùi Thị Mai Hoài làm chủ tọa, thảo luận về cấu trúc vốn và hiệu quả doanh nghiệp trước và sau đại dịch, tác động của trách nhiệm xã hội doanh nghiệp đối với sản xuất xanh và năng lực toàn cầu của doanh nghiệp vừa và nhỏ, cùng khả năng chống chịu tài chính trước các cú sốc rủi ro toàn cầu.
Đầu tư công và chính sách tài khóa cho phát triển bền vững. Phiên A06 do TS. Phạm Thái Bình làm chủ tọa, tập trung vào vai trò của đầu tư công, hạ tầng công nghệ thông tin và chất lượng thể chế đối với tăng trưởng; các điều kiện tài chính - tài khóa để thực hiện mục tiêu phát triển bền vững; tài chính hạ tầng đô thị và quan hệ đối tác công tư; cùng quản lý tài nguyên, năng lượng tái tạo và đổi mới xanh.
Phát triển địa phương và mạng lưới thể chế. Phiên A04 do TS. Đinh Sỹ Khang, Giám đốc chương trình song bằng Quản trị bền vững doanh nghiệp và môi trường (SFI -UEH) – Quản trị chuyển đổi bền vững (Koblenz – Đức), làm chủ tọa, đề cập đến thiết kế chính sách cho kinh tế di sản văn hóa, mối liên hệ giữa doanh nghiệp địa phương với thu nhập và nghèo đói, vai trò của mạng lưới thể chế trong định hình chính sách công, và quản trị tri thức trong khu vực công.

TS. Đinh Sỹ Khang, Giảng viên Viện Tài chính bền vững, chủ trì phiên A04 chủ đề “Local Development and Institutional Networks”
Đổi mới sáng tạo, xã hội và chuyển đổi bền vững. Phiên B11 do PGS. TS. Lê Hữu Quỳnh Anh làm chủ tọa, mở rộng thảo luận sang khả năng nhân rộng đổi mới sáng tạo từ cơ sở, pháp luật về bí mật kinh doanh và đầu tư doanh nghiệp, kinh tế bạc trong bối cảnh già hóa dân số, cùng hành vi đối với hoạt động logistics ngược và tái chế chất thải.
Ba phiên chuyên đề cùng bốn phiên song song với sự tham gia tổ chức và chủ trì của các thành viên SFI tại ELG 2026 phản ánh sự dẫn đầu về kiến thức liên nhành và năng lực nghiên cứu các vấn đề phát triển bền vững của đội ngũ nhân sự Viện Tài chính bền vững UEH. Các chủ đề như ESG, công nghệ môi trường, dữ liệu, tài nguyên nước, quản trị nhân sự, chính sách tài khóa, phát triển địa phương và chuyển đổi số doanh nghiệp có mối liên hệ chặt chẽ, đòi hỏi cách tiếp cận tổng thể và đa chiều.
Các nghiên cứu được trình bày, bên cạnh các phát hiện mang tính học thuật,còn phân tích thực trạng và gợi mở các hàm ý chính sách và thực tiễn liên quan đến hoàn thiện thể chế, chuẩn hóa dữ liệu, nâng cao năng lực doanh nghiệp và phát triển các cơ chế tài chính phù hợp với mục tiêu phát triển bền vững.
Thông qua việc tham gia chủ trì các phiên chuyên đề và phiên song song, Viện Tài chính Bền vững tiếp tục đóng góp vào các hoạt động trao đổi học thuật, đồng thời thúc đẩy kết nối giữa nghiên cứu với nhu cầu chính sách và thực tiễn quản trị. Đây cũng là cơ hội để Viện mở rộng hợp tác nghiên cứu và tư vấn chuyển giao trong các lĩnh vực tài chính bền vững, ESG, công nghệ môi trường, chính sách công và quản trị chuyển đổi.